Cập nhật lúc: 10:03, 05/10/2018 [GMT+7]
.

Tổng Binh ở đâu?


(Báo Quảng Ngãi)- Có những địa danh gắn với lịch sử hình thành của một vùng đất, nhưng nó không phải là tên gọi để chỉ một đơn vị hành chính của vùng đất đó. Tổng Binh ở phía đông huyện Bình Sơn là trường hợp như vậy. Dân Lý Sơn có câu ca dao để nói về địa danh này: “Trời trong ngó thấy Tổng Binh/ Muốn về thăm mẹ bực mình chẳng nghe”. Từ Lý Sơn, chỉ có thể nhìn thấy Tổng Binh khi “trời trong” mà thôi.

TIN LIÊN QUAN

Trong quá trình tiến về phương Nam để định hình đất nước chữ S như hôm nay, cha ông ta đã cắm những cột mốc quan trọng sau bước chân mở cõi của những binh phu lẫn những lưu dân chân đất. Tổng Binh ở xã Bình Hải (Bình Sơn) là một “cột mốc” như thế.

Vì sao có tên Tổng Binh?

Nhà giáo Nguyễn Đình Thảng, thầy dạy Hán Nôm khoa Ngữ văn của Đại học Tổng hợp Huế những năm 70-80 của thế kỷ trước, quê vùng đông huyện Bình Sơn đã có lần giải thích theo cách hiểu biết của ông về tên gọi này: “Tổng Binh là chỗ duyệt binh thôi”.

 

 Vịnh Việt Thanh, xã Bình Hải (Bình Sơn) nơi trước đây hơn 500 năm được xem như bàn đạp để Đại Việt tiến quân vào đất liền.                ẢNH: TL
Vịnh Việt Thanh, xã Bình Hải (Bình Sơn) nơi trước đây hơn 500 năm được xem như bàn đạp để Đại Việt tiến quân vào đất liền. ẢNH: TL


Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, người đã lăn lộn qua nhiều địa danh để tìm hiểu và lý giải các phong tục tập quán văn hóa ven biển Quảng Ngãi thì trưng ra cuốn “Từ điển chức quan Việt Nam” của Đỗ Văn Ninh để giải nghĩa chữ “tổng binh”, đại để đó là một chức quan, tùy theo mỗi triều đại mà quy mô và vai trò lãnh đạo của vị quan giữ chức này bé hay lớn. Ví dụ như Vương Thông- người đã thua tan tác Lê Lợi ở Đông Quan, buộc phải cầu hòa, cũng được nhà Minh sai phái qua Giao Chỉ giữ chức tổng binh trước đó. Tuy nhiên, TS. Nguyễn Đăng Vũ cũng nghiêng về cách lý giải của nhà giáo Nguyễn Đình Thảng, tức đó là nơi duyệt binh hoặc nơi đồn trú của quân lính thời vua Lê Thánh Tông tiến đánh quân Chăm.

Chúng ta đều biết, sau lần gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chăm để đổi lấy hai châu Ô và Rí (Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế ngày nay) vào năm 1306, biên giới của nhà Trần cũng chỉ dừng lại ngang đèo Hải Vân mà thôi. Phải đến 165 năm sau, tức 1471, Lê Thánh Tông mới tiến thêm một bước dài nữa, chiếm luôn kinh đô Đồ Bàn, xác lập chủ quyền Đại Việt đến đèo Cù Mông, tỉnh Bình Định ngày nay. Vị vua thao lược này không lấn đất theo kiểu cuốn chiếu từ Hải Vân đánh vô mà “chặt khúc” ra để giành từng phần một. Cú đổ bộ 2 vạn quân Đại Việt lên bờ biển vịnh Việt Thanh (phía đông Nhà máy Lọc dầu Dung Quất) mùa Xuân năm 1471 để chuẩn bị tiến đánh Đồ Bàn, thủ đô Chămpa thời ấy là một minh chứng cho chiến thuật “chia nhỏ để đánh” này.

Vì sao chọn bờ biển Việt Thanh mà không chọn nơi nào khác? Thứ nhất là quãng đường từ biên giới Đại Việt tại Hải Vân đến kinh đô Đồ Bàn chừng 300 cây số, thì vịnh Việt Thanh nằm ở phần 1/3 quãng đường tính từ phía bắc vào, là “khúc” dễ triển khai lực lượng bộ binh để tiến quân vào kinh đô Chăm. Nhưng điều này mới quan trọng: đây là vịnh biển kín gió có thể đồn trú tàu thuyền, lại nằm trong tầm quan sát từ Lý Sơn- nơi được xem như bàn đạp để Đại Việt tiến quân vào đất liền.

Một điều trùng hợp ngẫu nhiên là người Mỹ cũng đã chọn Việt Thanh để đổ quân bộ binh lên đất liền ngay bãi biển An Cường ngày nay, vào ngày 18.8.1965 sau khi phát hiện tại đây có một đơn vị quân giải phóng đang đồn trú. Trận thắng Vạn Tường vang dội năm nào của quân giải phóng đã diễn ra sau cuộc đổ bộ này của quân đội Mỹ.

Chính vì vị trí rất thuận lợi cho việc triển khai bộ binh từ biển ập vào nên vịnh Việt Thanh và toàn bộ vùng Bình Hải, bao gồm cả An Cường, Vạn Tường, Phước Thiện được chọn làm nơi đồn trú, chuẩn bị quân lương trước khi tiến vào đánh chiếm Đồ Bàn. Tên gọi Tổng Binh có lẽ xuất hiện vào thời điểm này. Sử sách còn ghi, chuyến đi lần ấy, đích thân vua Lê chỉ huy, có đến 500 chiến thuyền hộ tống và 2 vạn binh sĩ đi cùng. Một cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ như vậy nên để lại ấn tượng mạnh cho người dân nơi này. Để mãi đến hơn 500 năm sau, cuộc “tập trận” ngày ấy vẫn lưu lại một địa danh mang tên Tổng Binh.

Từ lời đáp của tướng sĩ

Điều thắc mắc mà hậu thế khó có thể lý giải được chung quanh câu chuyện về các địa danh tại vùng đất này. Theo TS. Nguyễn Đăng Vũ, trước khi vua tôi tiến về phương Nam đánh chiếm Đồ Bàn, Lê Thánh Tông tập hợp quân sĩ lại trước Động Hàng Đô (vị trí của UBND xã Bình Hải ngày nay). Sau khi ủy lạo binh sĩ, kết thúc lệnh truyền, vua phán: “Thiên giáng vạn tường, chúc chư đô toàn thắng”. Tướng sĩ đáp từ: “Vạn tường! Vạn tường! Vạn tường!”. Không ngờ lời đáp từ, cũng là kỳ vọng về sự “muôn đời’ ghi ơn công đức của nhà vua, vô tình đã khai sinh ra tên gọi của một vùng đất mới mang tên Vạn Tường. Hỏi những cụ già trong làng vì sao lại có tên Vạn Tường, thì ai cũng nói rằng tên có từ thời xa xưa do ông bà gọi rồi mình gọi theo, chứ không ai nói đến sự liên quan đến câu đáp từ của binh sĩ trên đây.

 Bãi biển thôn Phước Thiện, xã Bình Hải (Bình Sơn) được cho là nơi vua Lê tập kết quân trước khi đổ bộ lên Tổng Binh.                                     Ảnh: Văn Xuân
Bãi biển thôn Phước Thiện, xã Bình Hải (Bình Sơn) được cho là nơi vua Lê tập kết quân trước khi đổ bộ lên Tổng Binh. Ảnh: Văn Xuân


Địa danh Vạn Tường bắt nguồn từ lời đáp của binh sĩ đối với vị vua anh minh, đó cũng chỉ là giả thiết. Nhưng ít ra, cái tên Vạn Tường vẫn còn “nối mạng” với hậu thế bằng tên gọi của một thôn thuộc xã Bình Hải, còn Tổng Binh thì mãi mãi cũng chỉ là tên gọi được lưu giữ trong ký ức của các thế hệ dân Việt vùng đất này, chứ nó hoàn toàn không mang tên một đơn vị hành chính nào cả. Tương tự, tên gọi Động Hàng Đô cũng vậy, nó chỉ còn là tiếng vọng của quá khứ mà thôi.

Bên cạnh một tên gọi gắn liền với lịch sử mở cõi của cha ông, vùng Tổng Binh còn là nơi trầm tích những vỉa tầng văn hóa khác nhau. Địa danh Gò Yàng ở thôn Phước Thiện-nơi hằn in dấu vết của con người, cả Chăm lẫn Việt; Gành Yến- nơi kiến tạo của thiên nhiên để lại cho chúng ta một “kỳ quan” miệng núi lửa thuở khai thiên lập địa; một giếng Vương ngay giữa làng Thanh Thủy chưa bao giờ bị nhiễm mặn và cạn nước ngay trong những năm đỉnh hạn.

Đã hơn nửa thiên niên kỷ, tiếng vó ngựa của vua tôi nhà Lê đã mất hút vào quá vãng, nhưng âm vang của nó vẫn còn lay động bao con tim dân Việt cho đến tận hôm nay. Như thấy mỗi tấc đất nơi Tổng Binh còn in dấu hài của bậc quân vương thuở đi mở nước.


TRẦN ĐĂNG



 

.
.