Cập nhật lúc: 15:44, 02/09/2016 [GMT+7]
.
Kỷ niệm 71 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2.9.1945- 2.9.2016):

Bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và Chủ nghĩa xã hội


(Baoquangngai.vn)- Ý nghĩa lịch sử sâu sắc và thiêng liêng xuyên suốt thời đại của Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 luôn mãi trường tồn cùng dân tộc và đất nước Việt Nam trên hành trình xây dựng, bảo vệ, phát triển và hội nhập.

Cách mạng Tháng Tám là sự kiện mang tầm vóc và ý nghĩa lịch sử vĩ đại. Sau hơn 15 năm chuẩn bị và tập dượt, đấu tranh bền bỉ, kiên cường, vượt qua nhiều hy sinh, gian khổ, chỉ trong vòng 15 ngày cuối Tháng Tám, năm 1945, Cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành thắng lợi huy hoàng.

Lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền trong cả nước đã thuộc về tay nhân dân, xiềng xích nô lệ của thực dân, phát -xít bị đánh đổ. Đó là thắng lợi của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

  • Tết Độc lập nhớ Bác Hồ
    Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cũng đúng ngày này 24 năm sau, ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa. Người "đi gặp cụ Các Mác, cụ Lenin" và để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân niềm tiếc thương vô hạn.
    .

Từ thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, đến Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, đất nước ta hoàn toàn độc lập, nhân dân ta từ thân phận nô lệ,  xứng đáng được hưởng cuộc sống tự do, hạnh phúc và làm chủ vận mệnh của mình. Đây là cuộc cách mạng của ý chí, lòng dân Việt Nam và khát vọng vươn đến của của nhân loại yêu chuộng hòa bình.

Ngày 22.8.1945, Hồ Chí Minh rời Tân Trào về Hà Nội, ngày 25.8, Người làm việc ở số nhà 48- Hàng Ngang, nơi ra đời Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước ta. Sau đó, Người chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng để bàn và ra chủ trương, quyết định về đối nội, đối ngoại; chuẩn bị công bố danh sách thành viên Chính phủ lâm thời và ra Tuyên ngôn Độc lập…

Đến ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước cuộc mittinh khổng lồ của hàng chục vạn nhân dân, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời- Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á.

Ở phần cuối của Bản Tuyên ngôn Độc lập- năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Đó là tư tưởng lớn về nền độc lập dân tộc chân chính hoàn toàn và đặt tiền đề hướng đến tương lai ấm no, tự do, hạnh phúc.

Bản Tuyên ngôn thể hiện khí phách hào hùng, tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc ta. Khi Pháp rút chạy, Nhật đầu hàng Đồng minh, vua Bảo Đại thoái vị, nhân dân cả nước đã đoàn kết, đồng loạt đứng lên đánh đổ xiềng xích thực dân hơn tám mươi năm và chế độ quân chủ phong kiến hà khắc để lập nên chế độ dân chủ cộng hòa, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Rõ ràng là chúng ta đã “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Một trong những nội dung cốt lõi: Bản Tuyên ngôn mở đầu bằng câu trích trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Tiếp sau là câu trích dẫn từ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp: “…Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi…”. Đó là tư tưởng văn hóa-chính trị, nhân văn xuyên suốt của Hồ Chí Minh- một lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, một chiến sỹ cộng sản lỗi lạc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập về cái “chân lý cao cả” mà nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ phải đổ bao xương máu và nước mắt để viết nên. Đó là tầm nhìn xa, sự nhạy cảm về chính trị và thông hiểu về thế giới là giành được nền độc lập, quyền tự quyết cho dân tộc đã khó, nhưng để nền độc lập đó được tất cả các nước công nhận, tôn trọng còn khó hơn nhiều.

Bởi vì Người luôn thấu hiểu trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, các thế lực thực dân, đế quốc luôn tìm cách tiêu diệt chính quyền cách mạng còn non trẻ của Đảng và dân tộc Việt Nam.

Mặt khác, trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền cơ bản của con người và quyền của các dân tộc. Đây là những khái niệm pháp lý của quốc gia và quốc tế được xác lập thành phạm trù luật pháp quốc tế hiện đại: quyền dân tộc cơ bản, bao gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Điều đó có ý nghĩa to lớn, vì trong thời điểm sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các nước thuộc địa và phụ thuộc chưa được luật pháp quốc tế bảo vệ.  Với Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã đóng góp một điểm son ngời sáng trong lịch sử luật pháp quốc tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “...Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tôc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát- xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập!”.

Đây là Bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa giành được độc lập bằng cuộc chiến đấu, đầy hy sinh gian khổ của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ. Đây còn là lời lẽ tâm huyết, đầy cảm kích của đội tiên phong giác ngộ nhất của giai cấp cách mạng nhất, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp đấu tranh chống thực dân xâm lược, giải phóng dân tộc và giành độc lập, tự do.

Chính vì vậy, tại buổi mít-tinh ở Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp ngày 14/5/2010 nhân kỷ niệm lần thứ 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Han D’Orville, phó Tổng Giám đốc UNESCO khẳng định “Tuyên ngôn của Người bắt đầu chính từ những trích dẫn trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ… Quan điểm của Người đã nói trước được điều mà 15 năm sau, vào năm 1960, Liên Hợp Quốc đã đưa vào Tuyên bố trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa…”. tiếp sau đó, đến năm 1970, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc mới nhất trí tuyên bố chấm dứt “vô điều kiện chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức và mọi biểu hiện”.

Đến nay 71 năm đã trôi qua, nhưng khi đọc, tìm hiểu và suy ngẫm, vận dụng…. và liên hệ với thực tiễn, chúng ta càng cảm nhận, tự hào về những nét độc đáo, nhạy bén chính trị cũng như sự tỉnh táo, khéo léo, linh hoạt trong nghệ thuật đấu tranh ngoại giao qua cách thể hiện tinh tế với nội dung hàm ý sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Những giá trị to lớn cùng với những ý nghĩa sâu sắc, thiêng liêng và tính thời đại của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 luôn mãi trường tồn cùng dân tộc và đất nước Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập.

                                                                            

Tuấn Anh

 

.