,
Cập nhật lúc 20:24, Friday, 03/02/2012

Đảng cách mạng và những tấm gương, chuẩn mực đạo đức của người cách mạng

Cùng quyết tâm trước giờ vào ca

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng rèn luyện, giáo dục tư cách đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đạo đức cách mạng là gốc, là bản chất, sức sống của Đảng, Đảng là đạo đức, là văn minh.

Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927) lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đặt vấn đề: Cách mạng trước hết phải có cái gì?. "Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam"(1). Vấn đề xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận, về chính trị và tổ chức đã được người sáng lập Đảng đặt ra một cách căn bản.

Nguyễn Ái Quốc đặt lên trang đầu cuốn sách Đường Kách mệnh, là tư cách một người cách mệnh. Đảng cách mệnh là sự hợp thành của những người cách mệnh chiến đấu và phấn đấu vì một lý tưởng, mục tiêu cách mạng cao cả và hoạt động trong khuôn khổ tổ chức và những nguyên tắc khoa học và cách mạng. Những người cách mệnh, những đảng viên cộng sản có trí tuệ, năng lực và tư cách đạo đức có ý nghĩa quyết định đến vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng cách mệnh. ý thức sâu sắc điều đó, ngay từ đầu xây dựng Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã coi trọng những chuẩn mực để rèn luyện tư cách đạo đức của một người cách mệnh.

Trong tư cách một người cách mạng, Nguyễn Ái Quốc chú trọng các mối quan hệ: Với tự mình, với người khác và với công việc. Có thể coi 23 điều mà Người nêu ra như những tiêu chuẩn của một người cách mạng chân chính. Cần kiệm được đặt lên hàng đầu tự mình phải làm. Tiếp đó là những chuẩn mực: cả quyết sửa lỗi mình, vị công vong tư, hy sinh, giữ chủ nghĩa cho vững, ít lòng ham muốn về vật chất... Đối với người khác: với từng người thì khoan thứ, với đoàn thể thì nghiêm, có lòng bày vẽ cho người. Trong công việc phải: xem xét hoàn cảnh kỹ càng; quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể. Đó là những yêu cầu căn cốt, toàn diện không chỉ là dạy bảo mà là hành động. Đó cũng chính là những điều Nguyễn Ái Quốc chắt lọc từ đạo đức, lối sống của dân tộc, của các bậc tiền bối và từ cuộc đời hoạt động cách mạng của chính mình.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng rèn luyện, giáo dục tư cách đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đạo đức cách mạng là gốc, là bản chất, sức sống của Đảng, Đảng là đạo đức, là văn minh.

Khi Đảng mới được thành lập (3-2-1930) toàn Đảng mới có 310 đảng viên (theo Báo cáo của Nguyễn ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930), cùng với 3.588 hội viên các tổ chức quần chúng. Đại hội lần thứ nhất của Đảng (3-1935) toàn Đảng có 552 đồng chí. Cho đến trước lúc nổ ra cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám -1945, theo con số Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố, toàn Đảng có gần 5.000 đảng viên: Gần 5.000 đảng viên đã lãnh đạo hơn 20 triệu nhân dân cả nước giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, đồng bào với thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Thế hệ những người cộng sản thời dựng Đảng và đấu tranh giải phóng dân tộc đã khát khao lý tưởng cộng sản kiên cường đấu tranh cách mạng vì độc lập dân tộc, không mảy may tính toán cho riêng mình. Trong nhà tù Lao Bảo tháng 11-1940, Tố Hữu đã viết:

"Đời cách mạng, từ khi tôi đã hiểu.

Dấn thân vô là phải chịu tù đày

Là gươm kề tận cổ, súng kề tai

Là thân sống chỉ coi còn một nửa".

Trước Cách mạng Tháng Tám, với hai cuộc khủng bố trắng ác liệt của kẻ thù (1930-1931 và 1939-1941) các nhà tù của đế quốc như Hoả Lò, Côn Đảo, Sơn La, Tà Lài, Sài Gòn, Kon Tum, Lao Bảo, Bắc Mê... chật ních những chiến sĩ cộng sản, những người yêu nước, trong đó có nhiều đồng chí lãnh đạo Trung ương Đảng, Xứ uỷ, Tỉnh uỷ, Huyện uỷ. Chỉ tính ở cấp Trung ương, đế quốc thực dân đã "tặng" cho các đồng chí 222 năm tù với những đòn tra tấn dã man của thời trung cổ. Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh cũng 2 lần bị bắt và cầm tù (1931-1933) trong nhà tù của chính quyền Anh ở Hồng Công và (1942-1943) trong nhà tù của chính quyền Trung Hoa Quốc dân Đảng. Hơn mười đồng chí Uỷ viên Trung ương, uỷ viên Thường vụ Trung ương trong đó có bốn đồng chí Tổng Bí thư (Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ) đã anh dũng hy sinh. "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu" là lời nhắn gửi của Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng - Trần Phú, trước lúc hy sinh (6-9-1931). Tổng Bí thư Lê Hồng Phong hy sinh ở Côn Đảo (6-9-1942) đã để lời tâm huyết: "Nhờ các đồng chí báo cáo với Đảng rằng: cho đến hơi thở cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn tin tưởng ở thắng lợi vẻ vang của cách mạng".

Lịch sử mãi mãi khắc ghi hình tượng những người cộng sản hiên ngang bảo vệ lý tưởng, con đường cách mạng và chấp nhận hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Đó là: Nguyễn Phong Sắc, Trần Văn Lan, Ngô Gia Tự, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Chí Diểu, Tạ Uyên, Hoàng Văn Thụ và nhiều, rất nhiều những người con ưu tú khác. Sau Cách mạng Tháng Tám, cả dân tộc phải anh dũng kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược. Những người cộng sản lại đi đầu trong sự nghiệp cứu nước thần thánh. Cùng với vị Đại tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp là rất nhiều tướng lĩnh anh hùng: Nguyễn Bình, Huỳnh Văn Nghệ, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Chí Thanh, Đồng Sĩ Nguyên, Trần Văn Trà, Nguyễn Chánh, Lê Trọng Tấn, Hoàng Minh Thảo, Lê Đức Anh và cả một đạo quân anh hùng, bách chiến, bách thắng. Quân đội nhân dân Việt Nam đã xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"(2).

Có một mặt trận mà sự thông minh và lòng dũng cảm, trí tuệ và bản lĩnh của những chiến sĩ cộng sản là những tố chất hàng đầu và sự hy sinh vô cùng lớn lao nhưng thầm lặng. Đó là những chiến sĩ tình báo hoạt động trong lòng địch. Đồng chí Trần Quốc Hương - người thầy của những nhà tình báo huyền thoại. Có những nhà tình báo mà tên tuổi đã được biết đến như: Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân ẩn, Đặng Trần Đức, Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), nhưng cũng còn bao nhiêu tên tuổi vẫn chưa được biết đến. Tư cách, khí tiết, lý tưởng sống của những người cộng sản không may bị địch bắt, bị đầy đọa trong lao tù mãi mãi toả sáng. Ở nhà tù Côn Đảo thời chống Pháp có Võ Thị Sáu bất tử, thời đánh Mỹ có tấm gương năm anh: Nguyễn Đức Thuận, Phan Trọng Bình, Phạm Quốc Sắc, Lê Văn Một, Nguyễn Minh và biết bao người con kiên trung khác. Ông già Cao Văn Ngọc (sinh năm 1897 tại Bà Rịa) mặc dù không phải là đảng viên cộng sản nhưng đã đấu tranh kiên cường nhất, chống ly khai cộng sản trở thành ngôi sao sáng nhất. Có lần ông đã nói với những người bạn tù: "Mấy chú là đảng viên, mấy chú được chiến đấu cho lý tưởng cộng sản, được chết cho lý tưởng cộng sản thì còn vinh dự nào bằng"(3). Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, luôn luôn nêu cao chủ nghĩa quốc tế trong sáng, vô tư trong giúp đỡ cách mạng Lào và Campuchia. Có nơi đâu trên trái đất này, một Đảng cách mạng, một quân đội cách mạng với sự hy sinh cao cả đã đi cứu cả dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pôn Pốt năm 1979 và giúp bạn hồi sinh. Các nhà lãnh đạo Campuchia hiện nay và nhân dân bạn đã luôn khẳng định: không có Việt Nam thì không có Campuchia hôm nay.

Lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và phát triển đất nước cũng có biết bao các đồng chí lãnh đạo, các đảng viên hết lòng chăm lo cho sự nghiệp của đất nước, đời sống của nhân dân. Tấm gương Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, Kim Ngọc gây ấn tượng sâu sắc trong lòng dân. Quá trình khảo nghiệm đi đến đường lối đổi mới và không ngừng đổi mới, sáng tạo gắn liền với tên tuổi các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Chín Cần, Hồ Nghính và nhiều đồng chí lãnh đạo các địa phương, các ngành, các chuyên gia lý luận.

Khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên nắm các chức vụ trong bộ máy chính quyền đã ra sức phục vụ đất nước, nhân dân, được nhân dân yêu mến, tin tưởng. Nhưng từ rất sớm cũng đã có một bộ phận cán bộ, đảng viên không làm được điều đó. Trong thư gửi Uỷ ban nhân dân các cấp ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khuyết điểm, những căn bệnh: Trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người nhấn mạnh: "Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và cố gắng cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung. Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà, mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ "công bình, chính trực" vào lòng. Mong các bạn tiến bộ"(4).

Thật là một lời phê bình nghiêm khắc nhưng khoan dung, hướng tới sự tiến bộ, tốt đẹp hơn lên trong mỗi con người và có ý nghĩa sâu sắc đến ngày nay.

Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tư cách, đạo đức cách mạng. Người chú trọng giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên về tư cách, đạo đức, coi đó như một nội dung thiết yếu về xây dựng Đảng. Không những rèn luyện mỗi cán bộ, đảng viên, mà Người còn rèn luyện Đảng và nêu rõ: Tư cách của Đảng chân chính cách mạng với 12 điều: "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng"(5). Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng và đi đôi với thực hành. Đảng: "Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân". Đảng phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng, luôn luôn đứng về phía quần chúng. "Đảng không che giấu khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên". "Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo". "Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hoá ra ngoài". "Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới"(6).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tư cách của Đảng chân chính cách mạng chỉ có được nhờ Đảng thường xuyên chăm lo xây dựng và chỉnh đốn. Khái niệm chỉnh đốn Đảng được Người đề cập từ tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (10-1947) và nhất là trong bản Di chúc lịch sử. Thực hiện chỉ dẫn của Người, các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đều kiểm điểm, đánh giá và đề ra nhiệm vụ cơ bản về xây dựng Đảng. Nhiều Hội nghị Trung ương đã có nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng. Đó là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 23 khoá III (12-1974); Nghị quyết Trung ương 4 khoá IV (7-1978); Nghị quyết Trung ương 3 khoá VII (6-1992) về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII (6-1997) về chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), 2-1999 (khoá VIII) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Vấn đề xây dựng Đảng còn được nhiều Hội nghị Trung ương và Bộ Chính trị bàn chuyên sâu trên các lĩnh vực: công tác lý luận, những định hướng về công tác tư tưởng, tự phê bình, phê bình trong Đảng, tăng cường công tác kiểm tra và sắp xếp bộ máy tổ chức của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo và tăng cường công tác quần chúng.

Đặc biệt, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) họp từ ngày 26 đến 31-12-2011 đã thông qua đề án một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Trung ương nhấn mạnh ba nội dung lớn: Đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý mạnh; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và xử lý đúng đắn quan hệ với tổ chức đảng và chính quyền. Bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặc biệt nhấn mạnh vấn đề tự phê bình và phê bình. Nghị quyết của Trung ương và phát biểu của Tổng Bí thư đã thể hiện ý chí, quyết tâm của Trung ương của hơn 3,6 triệu đảng viên toàn Đảng, đáp ứng tình cảm, mong muốn của hơn 87 triệu đồng bào cả nước, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.

Cần lưu ý rằng, ba vấn đề Hội nghị Trung ương 4 khoá XI đề ra là những vấn đề cấp bách. Những vấn đề cấp bách đó dựa trên những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, lý luận và những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Ba vấn đề cấp bách đó hướng chủ yếu vào công tác cán bộ, rèn luyện phẩm chất chính trị, lý tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp. Thực tiễn hoạt động và lãnh đạo của Đảng càng làm sáng tỏ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng"(7).

Để làm tốt ba vấn đề cấp bách mà Hội nghị Trung ương 4 khoá XI đề ra phải học tập nghiêm túc hơn và thiết thực làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt cao cấp một cách bài bản, toàn diện sâu sắc, phù hợp với thực tiễn đất nước đổi mới và hội nhập. Khắc phục điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê bình: "Huấn luyện cho cán bộ trong các cơ quan hành chính mà không đụng đến công việc hành chính. Còn dạy chính trị thì mênh mông mà không thiết thực học rồi không dùng được"(8).

Trong nhà nước pháp quyền, chế độ trách nhiệm, đãi ngộ của cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức đều phải được luật hoá nghĩa là tuân thủ quy định chặt chẽ của pháp luật. Cán bộ, đảng viên không hoàn thành trách nhiệm phải bị bãi chức, làm hỏng việc, vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm hình sự. Xoá bỏ đặc quyền đặc lợi. Chức vụ, trách nhiệm đi liền với đãi ngộ xứng đáng thể hiện ở chế độ tiền lương. Bộ máy hệ thống chính trị hiện nay quá cồng kềnh, đội ngũ cán bộ, công chức đông quá mức cần thiết nhiều lần, ngân sách nhà nước có hạn, vì vậy tiền lương chưa đúng nghĩa tiền lương. Tiền lương của cán bộ, công chức bình thường chưa đủ nuôi chính mình, nói gì đến nuôi con cái học hành. Phải cải cách triệt để bộ máy, lựa chọn cán bộ công chức đủ trình độ, có chế độ tiền lương xứng đáng. Nhất định tình hình sẽ được cải thiện, tiêu cực sẽ bị đẩy lùi.

Nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn liền với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Ngày 14-5-2011, Bộ Chính trị khoá XI đã ban hành Chỉ thị số 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ thị nhấn mạnh việc xây dựng và tổ chức thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Coi trọng cả việc học tập và làm theo tác phong, phong cách của Bác. Quy định rõ trách nhiệm gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp, của cán bộ, đảng viên. Đưa việc học tập đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Biên soạn chương trình, giáo trình về đạo đức Hồ Chí Minh. Coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Đấu tranh phê bình những việc làm thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm. Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Biểu dương các tấm gương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Cần nhắc lại năm điểm lớn trong chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh và nêu gương. Đó là: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Nhân là thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, hiểu biết lý luận, tìm ra phương hướng, biết xét người, xét việc. Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm; thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng; có gan chống lại những vinh hoa, phú quý không chính đáng. Liêm là không tham địa vị, tiền tài, không ham người ta tâng bốc mình, sống quang minh chính đại. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

"Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người"(9)./.

----------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.2, tr.267-268.

(2) Sđd, t.11, tr.350.

(3) Lịch sử đấu tranh của các chiến sĩ yêu nước và cách mạng nhà tù Côn Đảo (1862-1975), Nxb. CTQG, H, 2011, tr.362.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.4, tr.58.

(5), (6), (7), (8), (9) Sđd, t.5, tr.249, 249-250, 269, 269, 252.

PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc    (Tạp chí Tuyên giáo)

 

http://baoquangngai.com.vn/channel/2023/201202/dang-cach-mang-va-nhung-tam-guong-chuan-muc-dao-duc-cua-nguoi-cach-mang-2128729/
,
Ý KIẾN BẠN ĐỌC (Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu. Chúng tôi có thể sẽ biên tập lại nội dung phản hồi của quý vị để phù hợp với tiêu chí chung của website)
,
Thường trực Tỉnh ủy thăm, tặng quà cho đảng viên trên 70 tuổi đảng
(QNĐT)- Chiều 2/2, các đồng chí Phạm Minh Toản-Phó Bí thư thường trực, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Minh-Phó Bí thư Tỉnh ủy đã đến thăm, tặng quà cho một số đảng viên có trên 70 tuổi Đảng, nhân kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.
,
,
,